Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi
về “bí quyết học tập”. Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả.
Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không
sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình
chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể
nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách
nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của
những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”.
Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này mình không làm
gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học. Trong
quá trình ấy, chắc tôi cũng đã từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có
điều những suy nghĩ đó chưa bao giờ được được sắp xếp lại một cách hệ
thống và được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói chuyện
này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái việc mà phải thú thật là
rất vất vả nhưng hy vọng là có ích.
Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học bách
khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các quí vị, các bạn sinh
viên, học sinh đã đến dự buổi nói chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của
quí vị là động cơ mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.
Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: cái gì là động cơ căn bản cho việc học tập. Thứ hai:
học chữ hay học làm người? Thú thực là tôi không thích câu hỏi này, vì
nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng chính tính đa nghĩa của nó
để triển khai thành các câu hỏi nhỏ xung quanh việc học cái gì? Câu hỏi cuối cùng làm thành nhan đề của bài nói chuyện này: học như thế nào?
Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy đủ cho cả ba
câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp lại những suy nghĩ tản mạn của
mình thành những câu trả lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối
buổi nói chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.
Về sự hướng thượng và hướng thiện
Sách Tam Tự Kinh mà các cụ học ngày xưa bắt đầu bằng câu “Nhân chi
sơ, tính bản thiện”. Con người được sinh ra có bản tính vốn là hiền
lành. Liệu có đúng không nhỉ ? Tin tức hàng ngày dễ làm cho người ta
nghi ngờ cái “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”. Đầu tháng Một ở Ấn độ,
một cô gái 23 tuổi bị sáu người đàn ông hãm hiếp đến chết trên một chiếc
xe buýt. Cuối tháng Một, ở Bắc Ninh, người ta nô nức, chen lấn nhau
tham gia lễ hội chém lợn. Con lợn bị nhát đao xẻ làm hai mảnh lăn quay
trong vũng máu lênh láng và trong tiếng hò reo của những người trảy hội.
Đây là những hiện tượng dị biệt, không tiêu biểu cho cuộc sống của
người dân Ấn độ và Việt nam. Tôi nêu chúng ra như ví dụ vì chúng cùng
phản ánh sự độc ác của con người một cách vô cùng rõ nét. Xét cho cùng,
giết lợn cũng chỉ là việc giết động vật để ăn thịt, cái mà con người
buộc phải làm để duy trì cuộc sống của chính mình. Hãm hiếp cũng nảy
sinh từ một bản năng cơ bản của con người là bản năng duy trì nòi giống.
Phải chăng, con người được sinh ra với hai bản năng cơ bản duy trì cuộc
sống và duy trì nòi giống, cái mà ở trong đó đã có sẵn mầm mống của
cái ác, của cái ác khủng khiếp. Nếu chỉ dừng lại đây thì quả khó mà tin
được vào cái “Nhân chi sơ tính bản thiện”.
Nếu con người được sinh ra chỉ có hai bản năng nói trên thì chắc rằng
hai sự việc kể trên sẽ không phải là những hiện tượng dị biệt, mà ngược
lại, là phổ biến, đến mức không làm chúng ta kinh ngạc hay xúc động
nữa. Có thể tôi còn là một người lạc quan, nhưng tôi tin rằng con người
được sinh ra còn có một bản năng khác nữa: đó là bản năng hướng thượng,
hướng thiện. Nhìn vào một đứa trẻ sơ sinh, xinh xắn như một thiên thần
ta có thể nghĩ rằng đó là hiện thân của sự tốt đẹp. Nhưng cái kiểm soát
mọi hành động của đứa trẻ là chỉ đơn thuần bản năng sinh tồn của nó. Tôi
nghĩ rằng, trong đứa trẻ không có sẵn một tâm hồn cao thượng, nhưng đã
có sẵn tiềm năng để xây dựng nên từ đó cái tâm hồn ấy. Theo tôi, nếu có
“tính bản thiện” của “nhân chi sơ”, thì nó chính là cái tiềm năng ấy.
Cái tiềm năng ấy được triển khai trong học tập và là động cơ chính
cho việc học tập. Có thể có người không đồng ý với quan điểm này và cho
rằng học là để sau này có một cuộc sống tử tế, để sau này có một vị trí
tốt trong xã hội. Tôi cho rằng cách suy nghĩ như vậy là phiến diện. Thứ
nhất, để có một cuộc sống tử tế, đó cũng chính là biểu hiện của sự hướng
thượng, hướng thiện – tất nhiên một khi nó đã biến thái để nhắm tới cái
đích là hưởng thụ một cuộc sống an nhàn nhờ vào sức lao động của người
khác, thì cái động cơ hướng thượng hướng thiện đó đã bị tha hoá nghiêm
trọng. Thứ hai, tôi tin rằng đa số người ta thực ra không có khả năng
phấn đấu vì một cái gì xảy ra trong một tương lai quá xa, phần lớn người
ta học chỉ vì đó là cách hoàn thiện bản thân mình, tức là học với một
động cơ hướng thượng thuần khiết nhất. Vì vậy, nhiều khi chính quan niệm
xã hội lại làm tha hoá một động cơ mà bản chất là thuần khiết.
Cần lưu ý là quan niệm xã hội không phải là cái duy nhất làm cho sự
hướng thượng hướng thiện bị tha hoá. Tôn thờ cá nhân, có thể là lãnh tụ,
danh thủ bóng đá, hay là ca sĩ Hàn quốc, là một hình thức tha hoá của
sự hướng thượng. Bản năng hướng thượng, hướng thiện luôn phải vật lộn
với hàng loạt bản năng xấu: tính lười biếng, tính đố kỵ, tính gian dối,
tính hiếu thắng, tự phụ. Bị tha hóa, nó không còn mấy cơ hội để làm động
cơ cho việc học tập.
Học chữ hay học làm người?
Gần đây, trên báo chí có khá nhiều người ở đặt ra câu hỏi “Cần học
chữ hay học làm người?” Hoặc giữa hai cái, cần học cái nào trước. Câu
hỏi này thực ra tối nghĩa. Học chữ, là tiếp thu kiến thức. Còn học làm
người là như thế nào, hẳn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu theo
nghĩa hẹp: học làm người như học kỹ năng sống, học nghệ thuật sống, tóm
lại là học những hành vi văn minh. Cũng có thể hiểu học làm người theo
nghĩa rộng tức là học những gì làm nên cốt cách của một con người – như
vậy thì lại quá rộng, và bao hàm nốt cả học chữ rồi. Có lẽ vì ý nghĩa
của câu hỏi không được phân tích rạch ròi mà nhiều cuộc thảo luận trên
báo chí về đề tài có cái vẻ gì đó hơi luẩn quẩn.
Trong cái nghĩa hẹp, có thể đặt lại câu hỏi trên khác đi, và làm cho
nó rõ nghĩa hơn: “Trường học phải dạy chữ hay dạy kỹ năng sống, nghệ
thuật sống?” Có vẻ như càng ngày càng có nhiều người ngả về quan điểm
hiện đại “Trường học phải dạy cho trẻ kỹ năng sống”. Quan điểm cổ điển
được nhà triết học Đức Hannah Arendt phát biểu rành rọt trong bài viết
“Khủng hoảng trong giáo dục” như thế này: “Chức năng của nhà trường là
dạy cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho chúng nghệ
thuật sống”. Tôi đồng ý với quan điểm này, và trong phần tiếp theo của
bài viết quan điểm này sẽ được làm rõ hơn lên.
Ẩn trong câu nói của bà Hannah Arendt, có cả câu trả lời cho câu hỏi
học làm người theo nghĩa rộng. Học làm người là học về thế giới, trong
đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người, để mỗi cá nhân nhận thức
được vị trí của mình ở trong đó, nhận thức hết các tương tác giữa cá
nhân mình với những người khác, để triển khai mọi tiềm năng của mình, để
hoàn thiện mình và đồng thời làm cho thế giới xung quanh trở nên một
nơi an toàn hơn, thân thiện hơn cho cuộc sống.
Để trẻ có kỹ năng sống, người lớn phải là tấm gương
Tôi từng nghe người ta kể chuyện một đứa bé sơ sinh bị sói tha đi.
Sau này người ta tìm lại được đứa bé. Tuy vẫn còn hình hài của một con
người, tính nết của nó là tính nết của loài sói. Ở đây, chính cái “tiềm
năng hướng thượng, hướng thiện” đã biến nó thành người sói. Đối với nó,
cái đại diện cho sự tốt đẹp chính là mẹ sói của nó. Mẹ sói cho nó bú,
tha mồi về cho nó ăn. Đứa trẻ lớn lên giữa bày sói tất trở thành một con
sói, cái nó coi là tốt là cái tốt của loài sói. Kể ra nếu nó tiếp tục
sống trong rừng cùng với bày sói thì như thế cũng không sao. Bi kịch đến
với nó vào cái ngày mà người ta buộc nó quay lại sống với con người.
Ở Lào, ở Thái Lan có phong tục gửi trẻ nhỏ vào sống ở trong chùa một
thời gian, từ ba ngày, ba tuần, ba tháng cho đến ba năm. Ở trong chùa,
ngoài việc học kinh kệ, trẻ còn học yêu quí cuộc sống thanh đạm, ngăn
nắp của người tu hành. Khi đi thăm Lào và Thái Lan, người ta luôn cảm
thấy ngạc nhiên về sự sạch sẽ, ngăn nắp của làng quê, kể cả ở những nơi
nghèo nhất.
Tôi xin phép dẫn thêm một ví dụ cá nhân, nhỏ nhặt và tầm thường thôi.
Vợ chồng tôi ít xem vô tuyến, hầu như không xem bao giờ. Có lẽ vì thế
mà mấy đứa con của chúng tôi hoàn toàn không có sở thích xem truyền
hình, bố mẹ không cần cấm đoán hay hạn chế gì cả. Nếu có thời gian,
chúng nó thích đọc sách hơn. Nhiều khi tôi muốn xem phim cùng với đám
trẻ con, tôi lại phải mặc cả với chúng.
Những ví dụ này nhắc nhở chúng ta, những người có bổn phận làm người
lớn, đừng bao giờ quên rằng dù muốn hay không muốn, chúng ta luôn là tấm
gương để cho trẻ soi vào. Ngoài trách nhiệm cho trẻ một mái nhà, cung
cấp thức ăn cho đủ no, quần áo cho đủ mặc, người làm cha mẹ luôn phải
tâm niệm rằng mình cư xử ngày hôm nay như thế nào, ngày mai trẻ sẽ cư xử
giống như thế. Đó là bài học của chuyện cái máng gỗ mà chắc các bạn đều
biết cả.
Cái tôi muốn nói là nếu người lớn biết cư xử đúng mực thì trẻ con
không cần đi học những lớp kỹ năng sống nữa. Và người có trách nhiệm
chính trong việc giáo dục hành vi cho trẻ là cha mẹ, gia đình, chứ không
phải nhà trường. Những bài lên lớp của thầy cô giáo không có cùng tác
dụng nhiều lên hành vi của đứa trẻ như chính hành vi của cha mẹ nó.
Tất nhiên tôi không muốn nói rằng trường học hoàn toàn không có chức
năng giáo dục hành vi cho trẻ nhỏ. Trong tâm hồn trẻ nhỏ, thầy cô giáo
có một vị trí thiêng liêng, có lẽ thiêng liêng hơn bố mẹ, vì thế nên
cách ứng xử của các thầy cô trong cuộc sống nhà trường sẽ ảnh hưởng trực
tiếp hành vi của học sinh. Nhưng không vì thế mà cha mẹ có thể trút
toàn bộ trách nhiệm giáo dục hành vi của trẻ lên vai thầy cô giáo.
Vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách
Khi đứa bé mới ra đời, bản năng sinh tồn điều khiển mọi hoạt động của
nó. Đối với nó, toàn bộ thế giới là bầu sữa mẹ. Khi lớn lên, nó có thêm
nhận thức về thế giới xung quanh, về những con người khác. Dần dần nó
hiểu rằng không chỉ có nó cần sinh tồn, mà cả những người khác cũng cần
sinh tồn như nó. Điều này thoạt nghe thật hiển nhiên, nhưng đó là một
bước chuyển hoá vĩ đại của tư duy, đứa trẻ đã chấp nhận sự tồn tại của
khách thể, của người khác, như một lực lượng đối lập với bản thân nó.
Chấp nhận sự tồn tại của khách thể là điều kiện để phân biệt giữa cái
thiện và cái ác. Cái thiện là sung sướng trong sự hạnh phúc của người
khác, đau khổ trong sự bất hạnh của người khác, còn ngược lại cái ác là
sung sướng trong sự bất hạnh của người khác, đau khổ với sự hạnh phúc
của người khác. Như vậy, khi đứa trẻ còn chưa nhận thức về người khác,
theo nghĩa ở trên, các khái niệm thiện và ác chưa thể áp dụng vào nó.
Thêm nữa, khái niệm “người khác” không nhất thiết phải là người. Đó có
thể là con ong, cái kiến. Đó cũng có thể là con lợn ở Bắc Ninh. Cái cảm
giác phấn khích, hân hoan của con người trong cái chết tức tưởi của con
lợn biểu đạt cái ác ở trạng thái thuần tuý nhất của nó.
Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế giới xung
quang, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người. Nó bắt người
ta phải nhận thức về sự tồn tại của người khác, cái là điều kiện để
phân biệt giữa thiện và ác. Chỉ biết phân biệt thiện và ác thôi không
đủ. Có một câu ngạn ngữ nói rằng “Đường đến địa ngục lát bằng thiện
tâm”. Biết phân biệt rành rọt giữa thiện và ác là cần thiết nhưng sẽ
thật thiếu sót, thậm chí nguy hiểm, nếu coi việc hình thành nhân cách
chỉ đơn giản là phân biệt giữa thiện và ác. Trong phần lớn các trường
hợp, vấn đề không phải là ở chỗ phân biện giữa thiện và ác.
Để nhận thức được vị trí của mình trong thế giới, mỗi người phải tự
đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản nhất về thân phận con người, phải
tự tìm ra câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó, hoặc ít ra cũng
biết về những câu trả lời mà tiền bối đã từng đưa ra. Việc phân biệt
giữa cái thiện và cái ác là một trong những câu hỏi như thế, nhưng nó
không phải là câu hỏi duy nhất và có lẽ cũng không phải là câu hỏi quan
trọng nhất.
Có những câu hỏi thoạt nghe thì có vẻ ngây thơ ví dụ “Những cái gì là
nhu cầu căn bản của con người? Tự do và công bằng có phải là như cầu
căn bản của con người hay không”. Con người có cả nhu cầu sống trong
cộng đồng, trong xã hội, vì mỗi người không thể làm ra được hết tất cả
những gì mình cần. Nếu tự do và công bằng cũng là nhu cầu căn bản thì xã
hội phải được thiết kế thế nào để cho tự do của mỗi người và sự công
bằng giữa người này và người khác được bảo đảm? Triển khai câu hỏi đến
đây thì ta thấy câu hỏi này phức tạp hơn nhiều so với câu hỏi phân biệt
giữa cái thiện và cái ác, và có lẽ cũng quan trọng hơn.
Trả lời cho câu hỏi về vai trò của giáo dục nhân văn nói chung vượt
ra ngoài khuôn khổ của bài nói chuyện này và khả năng của tôi. Trong
phần tiếp theo, tôi muốn thu hẹp câu hỏi lại và trao đổi kỹ hơn về vai
trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách.
Cơ chế căn bản cho việc hình thành nhân cách là chiêm nghiệm về một
sự việc cụ thể đã xảy ra trong một hoàn cảnh cụ thể, ngẫm xem người ta
đã quyết định như thế nào, đã làm gì, và hậu quả, ảnh hưởng của việc đó
lên cuộc sống của người khác và của chính người đó như thế nào. Có thể
thấy rằng con người chiêm nghiệm bằng xúc cảm nhiều hơn là bằng tư duy.
Người ta chiêm nghiệm sâu sắc nhất về những gì xảy ra với chính mình,
hoặc là xảy ra với người thân của mình, vì những trải nghiệm đó để lại
những xúc cảm mạnh nhất. Nhưng nói chung, trải nghiệm của một người
trẻ, kể cả những trải nghiệm được gia đình chia sẻ, không đủ phong phú
để người đó hình thành một nhân cách vững vàng. Vốn trải nghiệm của anh
ta sẽ giàu có hơn nhiều, nếu anh ta biết đặt mình vào trong lịch sử, nơi
những câu chuyện của quá khứ được ghi lại một cách trung thực, hoặc là
trong văn học, nơi có những câu chuyện lớn, tuy có thể là được hư cấu,
nhưng luôn xuất phát từ sự trải nghiệm chân thực của nhà văn.
Trong một bài viết trên blog cá nhân, đặt tên là Giữ ký ức, tôi có kể
câu chuyện về học sinh phổ thông ở Đức học về tội ác của chế độ quốc xã
lên người Do thái như thế nào. Học sinh Đức học ở trong sách vở, đọc
nhật ký của cô bé Anne Frank viết khi trong thời gian hai năm trốn trong
góc tủ để rồi cuối cùng cũng bị bắt rồi bị giết. Họ đi tham quan trại
tập trung Buchenwald. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn cả là học sinh Đức còn
phải tự đi điều tra xem xung quanh nơi mình ở, trước đây đã từng có
người Do thái nào sống, họ tên là gì, họ đã bị bắt trong hoàn cảnh nào,
đã bị giết chết như thế nào. Làm như thế để cho những trải nghiệm trở
nên gần gũi nhất. Một vài tháng sau khi viết bài này, tôi có nói về
chuyện với một nhiếp ảnh gia người Đức, ông ấy nói người Đức phải làm
như thế vì nếu không họ sẽ lại phạm lại đúng những sai lầm khủng khiếp
nhất trong quá khứ. Giáo sư Hà Huy Khoái cũng bình luận như thế này:
“Người Đức khôn thật, họ cho học sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào
không làm điều đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc
bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần học lại, thi lại đều
phải trả giá đắt hơn trước. Giá ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền
như sinh viên thi lại!”.
Tôi nghĩ về câu chuyện này từ một khía cạnh khác. Trải nghiệm chân
thực về những sự thật dù đau đớn đến mấy cũng làm cho cốt cách con người
trở nên mạnh mẽ, trái với những sự dối trá, có thể ngọt lịm, nhưng luôn
làm tha hoá tâm hồn con người. Chức năng của giáo dục nhân văn không
phải là ngợi ca cái thiện, phê bình cái ác mà là giúp con người tìm đến
sự thực và để cảnh giác với sự dối trá của người khác và của chính mình.
Cảnh giác với bản năng lười nhác, ích kỷ và hèn nhát, những cái rất
giỏi ngụy trang trong tấm áo thiện tâm để dắt tay con người đi về địa
ngục, cái không phải là gì khác mà chính là sự tha hóa hoàn toàn của tâm
hồn con người. Giáo dục nhân văn nghiêm túc rèn cho chúng ta thái độ nỗ
lực không mệt mỏi trong cố gắng đi tìm sự thật cùng với khả năng chiêm
nghiệm bằng tư duy vì nếu chỉ chiêm nghiệm bằng xúc cảm, con người rất
dễ bị đánh lừa.
Tôi đã nhắc đến chuyện bản năng hướng thượng hướng thiện của con
người rất dễ bị tha hoá để trở thành hiện tượng sùng bái cá nhân, có thể
xuất hiện dưới dạng là sùng bái lãnh tụ hoặc ca sĩ Hàn quốc. Vai trò
của giáo dục nhân văn là dắt tay con người đi theo “tấm biển chỉ đường
của trí tuệ” để đi về với cái chân thiện, chân mỹ.
Ngôn ngữ và thái độ khoa học
Nếu bản năng hướng thượng, hướng thiện là động cơ của học tập, nó
không phải là công cụ. Con người biểu đạt sự hiểu biết về thế giới khách
quan bằng lời. Con người thụ hưởng vốn hiểu biết mà nhân loại tích tụ
được thông qua ngôn ngữ. Có hai thái độ ứng xử với ngôn ngữ đối lập
nhau, dẫn đến hai phương pháp tư duy đối lập nhau: một bên là thái độ
tôn giáo, coi ngôn từ như đối tượng để tôn thờ, một bên là thái độ khoa
học, coi ngôn từ như một công cụ để định hình tư tưởng.
Định nghĩa chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh là điển hình của thái độ tôn
giáo đối với ngôn từ. Đạo được mô tả như thế này, như thế kia, Đạo
không phải là thế này, không phải là thế kia, nhưng không một lần Đạo
được định nghĩa là cái gì. Đạo là một từ đại diện cho một khái niệm linh
thiêng không định nghĩa được, người ta chỉ có thể biết thuộc tính của
nó là như thế này, như thế kia, cùng lắm là biết nó không phải là cái
gì, tức là hạn chế khái niệm bằng phủ định, chứ không thể nói nó là cái
gì, tức là định nghĩa khái niệm bằng khẳng định. Tính linh thiêng của
chữ Đạo nằm chính ở chỗ ta không thể định hình được nó.
Tôi dẫn ví dụ Đạo Đức Kinh không với ý muốn đánh giá thấp giá trị
triết học của tác phẩm này. Tôi chỉ muốn chỉ ra sự đối lập với giữa thái
độ tôn giáo của nó đối với ngôn ngữ và thái độ khoa học. Thái độ tôn
giáo với ngôn ngữ đưa đến những luận điểm bao quát, trong bất kỳ hoàn
cảnh nào của cuộc sống, con người cũng có thể vận dụng chúng để diễn
giải những gì xảy ra với mình, và tự an ủi mình. Mà trên đời này, ai là
người không cần được an ủi.
Đóng góp lớn nhất của văn hoá Hy lạp cổ đại cho tư duy loài người có
lẽ là sự phát minh ra thái độ khoa học với ngôn ngữ mà điển hình là sách
Cơ sở của Euclid. Để nói về hình tròn, người ta không nói nó là cái gì
đó giống mặt trời, hay mặt trăng vào thời kỳ trăng tròn, mà người ta
định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm có một khoảng cách cho trước
đến một điểm cho trước, gọi là tâm của đường tròn. Cái đáng lưu ý nhất
là khái niệm luôn được xây dựng trên cơ sở khẳng định: nó là cái gì, chứ
không phải trên cơ sở phủ định: nó không phải là cái gì.
Cũng cần lưu ý là ở đây đường tròn không được gán cho bất kỳ một
thuộc tính thiêng liêng nào cả, nó chỉ là cái tên đưa ra để định hình
khái niệm tập hợp các điểm có khoảng cách cho trước đến một điểm cho
trước. Thậm chí trong thực tế, không có cái gì chính xác là hình tròn
cả, chỉ có những hình tròn gần đúng mà thôi. Các định nghĩa của Euclid
chỉ có giá trị giới hạn trong phạm vi của hình học. Theo một nghĩa nào
đó, hình học là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ, là một trò chơi của
tư duy. Giá trị lớn nhất của trò chơi này nằm ở ngay trong sự hạn chế
của nó. Vì luật chơi bao gồm một số tiên đề, và một số phép suy luận
được quy định trước, một phát biểu hình học chỉ có thể hoặc là đúng,
hoặc là sai, một chứng minh chỉ có thể là đầy đủ chặt chẽ hoặc là thiếu
sót ngộ nhận. Đây là cuộc chơi mà tư duy logic của con người được tha
hồ thi thố. Cho đến bây giờ nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa đó. Để cho trẻ học
được phương pháp lập luận chặt chẽ, không có gì tốt hơn là học hình học
Euclid.
Ưu điểm của trò chơi tư duy mà trong các luật chơi được cố định trước
là trong phạm vi của cuộc chơi này, mọi cái đúng cái sai đều rõ ràng.
Ưu điểm quan trọng khác là con người có thể rút ra kết luận rõ ràng chi
tiết từ hệ thống tiên đề và khái niệm, để rồi đem nó ra kiểm chứng, đối
chiếu với quan sát thực tế.
Ở điểm này, thiên hướng của khoa học khiêm tốn hơn nhiều so với thiên
hướng của tôn giáo. Những luận điểm của tôn giáo thường có tính khái
quát cao, nhưng không có tính chi tiết để có thể kiểm chứng đối chiếu
được qua các quan sát thực tế. Trong mọi trường hợp tôn giáo yêu cầu
người ta phải tin và phải chấp hành. Ngược lại, lý thuyết khoa học đưa
ra những luận điểm đủ cụ thể để có thể kiểm chứng với thực tế và dành
cho thực tế quyền phán xét cuối cùng. Sự khiêm tốn, luôn đặt mình vào vị
trí để cho thực tế phán xét, hoặc khẳng định, hoặc phủ nhận, theo Karl
Popper chính là thuộc tính đặc trưng của khoa học, đối lập với tín điều.
Sự khiêm tốn này cũng chính là cái làm nên sức sống của khoa học. Tôn
giáo sẽ chết khi con người không còn đặt lòng tin vào tín điều nữa. Còn
trong bản chất của mình, luận điểm khoa học chấp nhận sự phủ định, nó
như chỉ chờ được thực tế phủ định để hồi sinh, lột xác thành một lý
thuyết khoa học mới, phức tạp hơn, có phạm vi ứng dụng rộng hơn lý
thuyết cũ.
Trong bản chất, mọi lý thuyết khoa học chỉ mô tả được một phạm vi nào
đó của thế giới, lý thuyết càng thô sơ thì phạm vi áp dụng của nó càng
hẹp. Đi ra ngoài phạm vi đó là bắt đầu một cuộc chơi mới, con người lại
phải sáng tạo một hệ thống ngôn ngữ, khái niệm mới, tìm ra một luật chơi
mới. Nhưng không phải vì thế mà lý thuyết cũ nhất thiết phải bị thủ
tiêu khi một lý thuyết mới ra đời. Trong phạm vi cuộc sống hàng ngày,
khi các vật thể chuyện động chậm hơn nhiều so với ánh sáng, cơ học
Newton vẫn đúng.
Người đi tìm hiểu thế giới gần như bắt buộc phải đi lại gần như toàn
bộ hành trình tìm hiểu thế giới của loài người. Đây là cái khó khăn rất
lớn. Đã có một số quan điểm sai lầm trong giáo dục muốn bỏ qua những lý
thuyết khoa học trước đây để đưa học sinh đến với những lý thuyết tiên
tiến nhất. Ở phương tây những vào những năm 70 đã có trào lưu xây dựng
lại toàn bộ giáo trình toán học dựa theo cách trình bày toán học hiện
đại của nhóm Bourbaki. Kết quả của thí nghiệm đại trà này không tốt. Cảm
nhận chung là trình độ toán học của học sinh tốt nghiệp phổ thông kém
đi nhiều.
Gần đây, con lắc cực đoan có vẻ như bị văng theo hướng ngược lại.
Người ta muốn lược đi khỏi chương trình tất cả những gì được coi là
không cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Tôi vô cùng ngạc nhiên bởi ý
kiến của một vị Giáo sư cho rằng học sinh không cần học vi phân, tích
phân vì hàng ngày có ai cần dùng đến vi phân, tích phân đâu. Nhưng chính
là nhờ vào thiên tài của Newton và Leibnitz, các hiện tượng tự nhiên
được mô tả một cách tường minh dưới dạng phương trình vi phân. Loại bỏ
đi đạo hàm tích phân có khác gì tự nguyện quay lại với tư duy mơ hồ của
siêu hình trung cổ.
Vấn đề không phải đem những kiến thức khoa học tiên tiến nhất đến cho
học sinh, vì có muốn cũng không làm được. Vấn đề cũng không phải là tập
trung rèn luyện cho học sinh kỹ năng tính toán để phục vụ cho những nhu
cầu hàng ngày. Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy
khoa học: định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó với thế
giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để đưa ra những luận
điểm cụ thể, kiểm chứng những luận điểm đó với thế giới khách quan.
Còn một thuộc tính khác của một khoa học có sức sống là khả năng đem
đến sự bất ngờ. Hình học Euclid không còn khả năng đưa ra những khẳng
định bất ngờ nào nữa và theo nghĩa này, nó là một môn khoa học chết. Nó
chỉ còn là một trò chơi trí tuệ để học sinh rèn luyện khả năng tư duy
logic. Nhận định của Einstein rằng tia sáng bị uốn cong khi đến gần các
vật thể có khối lượng lớn nhờ vào những tính toán trong lý thuyết tương
đối là một bất ngờ khi trong hình dung của chúng ta, đường thẳng là
đường truyền của ánh sáng. Sức sống của một bộ môn khoa học thể hiện ở
chỗ từ một hệ thống khái niệm, tiên đề chấp nhận được, bằng tính toán và
lập luận, người ta có thể đưa ra những giải thích chưa biết cho những
hiện tượng đã biết, hoặc là tiên đoán về những hiện tượng chưa được biết
đến.
Khi khoa học “nhận nhiệm vụ” diễn giải, chứng minh cho một luận điểm
cho trước, để phục vụ một mục đích chính trị hoặc tôn giáo, bất kể mục
đích đó tốt hay xấu, về mặt thực chất khoa học đã mất đi cái làm nên sức
sống của nó. Vấn đề “nhận nhiệm vụ” ảnh hưởng nhiều đến khoa học xã
hội hơn là khoa học tự nhiên. Như một số người đã nhận xét, ở các nước
xã hội chủ nghĩa cũ, các ngành khoa học tự nhiên có thể rất phát triển
trong khi các ngành khoa học xã hội để lại rất ít dấu ấn vào văn minh
nhân loại. GS Hà Huy Khoái có lần phát biểu nửa đùa nửa thật “Thực chất,
ở Việt Nam chưa có khoa học xã hội”. Phát biểu của ông đã gây ra những
phản ứng khá dữ dội. Nói một cách khách quan hơn, nó có đấy, nhưng nó
yếm khí và thiếu sức sống.
Học như thế nào?
Ngày xưa để học được chữ thánh hiền, cái quan trọng nhất là cần có
chí. Cái chí để đi bắt đom đóm bỏ vào lọ làm đèn mà đọc sách thâu đêm.
Trong công việc học tập bây giờ, trong việc tiếp thu kiến thức khoa học
của nhân loại tưởng như vô hạn, chỉ có chí thôi chắc là không đủ.
Như tôi vừa trình bày ở trên, khoa học không bị cái bệnh tự phụ coi
những luận điểm của mình đúng một cách tuyệt đối, đúng một cách phổ
quát. Mỗi lý thuyết khoa học được khai triển bằng tính toán, bằng lập
luận từ một số nhỏ khái niệm, một số tiên đề cơ sở. Mỗi lý thuyết có
logic nội tại của nó, nó không tự mâu thuẫn, nhưng những kết luận mà
người ta rút ra từ nó chỉ khớp với thực tế khách quan trong một phạm vi
nào đó. Theo một nghĩa nào đó, mỗi lý thuyết là một trò chơi trí tuệ,
với luật chơi được xác định rõ ràng mà trong đó người chơi có thể triển
khai khả năng tư duy của mình để đi đến những kết quả nhiều khi nằm
ngoài sự mong đợi ban đầu.
Rất ít khi người ta chơi trò gì một mình. Để cho cuộc chơi thực sự
cuốn hút, để cho người chơi có thể thực sự triển khai mọi tiềm năng tư
duy của mình để đi đến những kết quả bất ngờ, đi đến sáng tạo, cuộc chơi
phải có bạn chơi và phải có trọng tài. Để minh hoạ quan điểm này, tôi
xin đưa ra một gợi ý nhỏ, nhưng rất nghiêm túc.
Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn phí rất
nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng. Một số trường đại học có
tên tuổi như MIT, Stanford còn tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư
liệu học tập. Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến đó
học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được nhận vào học, bạn có
thể truy cập miễn phí các tư liệu học tập, theo dõi các bài giảng video.
Vậy có đúng là bạn cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học
như sinh viên ở MIT hay ở Stanford hay không.
Tôi nghĩ rằng trừ khi bạn có một ý chí sắt đá, dù có được cung cấp
tất cả mọi tài liệu trên đời, dù dược theo dõi miễn phí các bài giảng, ở
nhà một mình bạn vẫn không thể học được. Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng
trên mạng một mình không phải là một cuộc chơi thú vị: không có địch
thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không thấy mục tiêu, không
thấy giải thưởng. Đó là những thứ không liên quan trực tiếp đến nội dung
khoa học của bài giảng nhưng đó là cái mà người đi học cần để phấn đấu
liên tục. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong một hai ngày
cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể, có lớp học, có thầy giáo để
duy trì nỗ lực học tập.
Gợi ý của tôi là tại sao các bạn không tự tổ chức cùng học theo giáo
trình được cung cấp trên mạng. Tại sao không thể dùng trực tiếp bài
giảng, tư liệu học tập cung cấp miễn phí trên mạng trong các lớp học
chính khoá. Các thầy không nhất thiết phải giảng cả buổi nữa, mà có thể
cho sinh viên xem bài giảng trên mạng, có thể làm trước phụ đề tiếng
việt, sau đó dành thời gian để giải thích thêm, trả lời câu hỏi của sinh
viên, và hướng dẫn làm bài tập. Và cuối cùng là tổ chức thi cử nghiêm
túc. Tất nhiên gợi ý thì dễ, mà làm thì khó, nhưng tôi không tin là việc
này không thể làm được. Kinh phí để tổ chức lớp học như thế có lẽ là
không nhiều lắm, nếu so sánh với học phí 50 ngàn đô la một năm ở MIT hay
Stanford.
Với gợi ý có tính suy tưởng này, tôi hy vọng làm nổi lên được sự quan
trọng của việc tổ chức học tập. Học tập là một hoạt động tập thể và có
tổ chức. Như đã nêu ở trên, thiếu một tập thể có tổ chức, con người nói
chung không có khả năng duy trì nỗ lực của mình trong một thời gian dài.
Thiếu tranh biện con người nhanh chóng lạc vào con đường chủ quan, con
đường luôn dẫn đến cái đích là sự bế tắc. Bản tính con người là hiếu
thắng, cái cần thiết để tạo ra sự sôi động trong tranh luận, những cũng
là cái làm hỏng cuộc tranh luận, biến nó thành chiến trường để người này
đè bẹp người kia. Vì vậy trong mọi cuộc chơi tập thể cần có một luật
chơi lành mạnh để cho sự cạnh tranh chỉ tạo ra nỗ lực để mỗi người vượt
lên chính mình, chứ không phải là cái cớ để thỏa mãn bản năng hiếu
thắng. Và cuộc chơi cần một người trọng tài, nắm vững luật lệ và có thẩm
quyền điều khiển cuộc chơi. Ngoài ra, chính những ràng buộc của luật
chơi bắt người chơi phải vươn tới sự sáng tạo thực sự.
Tôi để ý thấy người ta phá bỏ luật chơi dễ dàng quá. Tôi xin dẫn một
ví dụ nhỏ là việc viết thư giới thiệu. Viết thư giới thiệu là một công
việc khá vất vả mà lại không thể mong đợi phần thưởng gì khác ngoài cảm
giác hoàn thành bổn phận. Để giới thiệu cho một đồng nghiệp vào một vị
trí phó giáo sư, hay giáo sư, thường thì người giới thiệu phải tìm hiểu
kỹ công trình của người mình giới thiệu để chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào
đặc sắc, chỗ nào thì cũng chỉ bình thường, và nêu ra ý nghĩa chung của
công trình. Không viết được đầy đủ nội dung như vậy, thì lá thư giới
thiệu không có mấy trọng lượng, mà người viết thư giới thiệu lại có thể
bị đánh giá, hoặc là về sự nghiêm túc, hoặc là về trình độ. Viết thư là
một việc rất vất vả, mà không có ai khen ông này ông kia viết thư giới
thiệu rất hay, vì trên nguyên tắc thư giới thiệu được giữ bí mật. Tóm
lại, viết thư giới thiệu là một việc vất vả, không có bổng lộc, nhưng
lại cần phải làm để ủng hộ một người đồng nghiệp xứng đáng, hoặc chỉ đơn
thuần là để thực hiện bổn phận của mình. Viết thư giới thiệu cho sinh
viên cũng mất công, nhưng không vất vả như viết thư giới thiệu cho đồng
nghiệp.
Có một lần, một sinh viên mà tôi đã từng dạy ở Hà nội nhờ tôi viết
thư giới thiệu. Khi tôi còn đang do dự vì tôi đánh giá bạn ấy không
thực sự xuất sắc, thì anh ta gửi cho tôi một bức thư giới thiệu soạn sẵn
để tôi chỉ việc ký vào đó. Khi tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về cách làm
này, thì bạn ấy trình bày là các thầy giáo khác yêu cầu bạn ấy làm như
thế. Một số người có thể coi đây là việc nhỏ, nhưng tôi nghĩ chính từ
những chuyện nhỏ như thế sẽ làm tha hoá cả hệ thống.
Khi chuẩn bị bài nói chuyện này, ý định của tôi là chia sẻ những suy
nghĩ tản mạn của mình về việc học tập, chứ không định phê bình ai cả,
càng không có ý định phê bình nền giáo dục ở nước ta. Đã có nhiều người
chỉ ra rất nhiều bất cập, tôi không thấy cần thiết phải hoà thêm tiếng
nói của mình vào đó. Nhưng nếu chỉ nêu ra một vấn đề, vấn đề lớn nhất,
thì theo tôi đó là mức độ tha hóa của hệ thống.
Xin quay lại sự kiện Đồi ngô mà các bạn đều đã biết cả. Đây là một sự
kiện vô cùng đặc biệt, vì chuyện thí sinh quay phim giám thị vi phạm
qui chế thi là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Đây là
một câu chuyện rất buồn, nó phải là tiếng chuông cảnh tình về mức độ
tha hoá của hệ thống. Hãy khoan quy trách nhiệm cho một cơ quan, một cá
nhân nào mà hãy bình tâm suy nghĩ. Để cho một việc như vậy xảy ra, phải
có nhiều người từ trung ương đến địa phương, ở trong và ngoài ngành giáo
dục, đã không tôn trọng luật chơi. Kết quả là kỳ thi tốt nghiệp, cái
đáng ra phải là một thủ tục mang tính nghiêm cẩn, phải là một cái mốc
thiêng liêng cho cả quá trình lao động học tập của học sinh, lại trở
thành một trò đùa, một trò đùa làm chúng ta muốn khóc.
Nước Mỹ có thể tự hào về những trường đại học của mình. Các đại học ở
Mỹ thường là tương đối trẻ, trường đại học Chicago nơi tôi làm việc
cũng mới khoảng 100 tuổi, đồng niên với Đại học quốc gia Hà nội. Có lẽ
cũng phải trả lời câu hỏi, cái gì là “bí quyết thành công” của họ. Vào
thời điểm hiện tại thì ta có thể nói rằng lý do thành công của họ là họ
rất giàu, có nhiều giáo sư giỏi, có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại.
Nhưng nói như thế là nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân. Ban đầu, họ
không giàu, mà cũng không có nhiều người thực sự xuất sắc nếu so với cái
trường đại học ở châu Âu vào cùng thời. Tuy không có một câu trả lời
duy nhất, nhưng một nguyên nhân chắc chắn được nhắc đến là tinh thần
fair-play, mọi hành vi ăn gian đều bị trừng trị một cách vô cùng nghiêm
khắc.
Tôi cho rằng sự trung thực là một hành vi khó mà học được từ trong
sách vở. Để trẻ học được tính trung thực, trước hết người lớn cũng phải
học tính trung thực, để tự biết mà làm gương.
Tôi đã nói nhiều về sự cần thiết của việc tổ chức học tập, tính kỷ
luật và tính trung thực. Nhưng bạn có thể thắc mắc rằng tại sao tôi nói
về trường học mà cứ như là nói về doanh trại quân đội.
Tính kỷ luật và trung thực tất nhiên là không đủ. Cái còn thiếu chính
là “niềm say mê” mà tôi nhắc đến lúc bắt đầu. Say mê đi tìm cái mới,
cái chưa biết, tìm lời giải thích cho những gì còn chưa hiểu. Niềm say
mê đi từ đâu đến? Thú thực là tôi không biết chắc chắn, và vì thế mà tôi
giả sử rằng con người sinh ra với một bản năng hướng thượng, nói cách
khác là đã có sẵn trong mình mầm mống của niềm ham mê. Tôi nghĩ rằng
thực ra câu hỏi niềm ham mê sinh ra từ đâu không quan trọng bằng làm thế
nào để gìn giữ niềm ham mê, và không để cho nó bị tha hoá. Niềm đam mê,
tính hướng thượng hướng thiện là động cơ cho việc học tập, và chính
việc học tập đích thực là cái nuôi dưỡng sự hướng thượng hướng thiện bởi
những giá trị nhân văn chân thiện, chân mỹ, bởi tình yêu sự thật, và
bởi niềm hạnh phúc của sự khám phá, để vượt qua biên giới giữa những gì
đã biết và những gì chưa biết.
Một người bạn tôi có góp ý với tôi rằng bên cạnh niềm ham mê, đừng
quên bổ sung sự quả cảm. Sự quả cảm là cái bạn cần để không để lười
biếng, hèn nhát dụ dỗ mà quay lưng lại với sự thật. Sự quả cảm cũng là
cái bạn rất cần khi đi tìm cái mới. Bạn có tập thể, có đồng đội để cùng
học tập, tiến bộ. Nhưng dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy rằng khi
đã vượt qua biên giới của những gì đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa
biết, bạn rất cần tính quả cảm vì đi tìm cái mới thường là một hành
trình cô đơn, và nó có thể kéo dài nhiều năm.
Lời cảm ơn
Xin chân thành cảm ơn các ông Bùi Đức Lại, Nguyễn Xuân Long, Hoàng Hồng Minh và Nguyễn Phương Văn về những góp ý quí báu.
Ý của tôi khi nói “hiện sinh” là gì? Ý của tôi là gắn với cuộc sống, trần trụi và thiết thực nhất có thể. Như vậy, tôi không có ý phản đối bởi tôi đồng tình với cách tiếp cận vấn đề một cách khoa học của anh Châu. Tuy vậy, tôi muốn chia sẻ một góc nhìn mới, mà theo tôi là bổ sung thêm với những điều như trên.
Thứ nhất, kiến thức và ý thức của nhân loại cho tới thời điểm này đã đủ để công nhận tính liên kết tương hỗ của vạn vật với nhau – interconnectedness hay interdependence. Như vậy, mỗi cá nhân là sản phẩm của tạo hóa, là một cá thể có ý thức. Cuộc sống của mỗi cá nhân cần phải hòa hợp và đồng điệu với tự nhiên. Nếu làm được điều đó, mỗi cá nhân sẽ tận hưởng cuộc sống, vui vẻ, tự nhiên và đóng góp cho Sự Tồn Tại bằng tình yêu và tính cá nhân đặc biệt của mình. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh rằng: giáo dục là để khai mở tiềm năng sẵn có trong mỗi cá nhân, để họ có một cuộc sống hạnh phúc. Tôi tin rằng, không còn một mục tiêu nào cao cả và bình dị hơn nữa.
Thứ hai, giáo dục phải được xem là một môi trường mang tính nuôi dưỡng, chứ không phải là một hệ thống học thuật, lý thuyết hay quy tắc. Bởi dù ít dù nhiều, một hệ thống dù đẹp đến đâu đều mang tính áp đặt, mô hình chung sẽ cản trở tính sáng tạo. Chúng ta cần nhìn nhận lại sự phát triển của trẻ thơ. Tôi tin rằng, trẻ nhỏ vốn dĩ không có nhiều kiến thức, nhưng chúng gắn kết chặt chẽ với tự nhiên, đắm chìm trong trí thông minh và kinh nghiệm được tích lũy trong tiềm thức và vô thức. Cách tiếp cận mới nên là theo hướng khai phá – “draw out”; chứ không phải là phải là nhồi nhét, cung cấp kiến thức – “stuff in”.
Với hai điểm trên, như vậy tôi đã sơ lược qua ý kiến của mình về cách đổi mới tư duy về giáo dục. Mà tóm gọn ở đây, chỉ là rằng: chúng ta thay đổi tư duy của mình trước, trước khi tìm cách để làm mới giáo dục. Tuy vậy, nếu không có thêm một bảo bối nào khác ngoài hiểu biết và nhận định, thế hệ chúng ta chắc chắn sẽ rất khó khăn và hầu như nắm phần thất bại. Vì thế, tôi xin được nói một điểm nữa.
Điểm thứ ba, và cũng là cuối cùng, tôi chỉ muốn nói 2 từ: ĐỊNH TÂM. Cuộc sống là một dòng chảy đầy biến động. Chúng ta có thể cung cấp một nền giáo dục tốt nhất có thể, nhưng ai mà biết được ngày mai sẽ thế nào? Hơn thế nữa, giáo dục sẽ là vô nghĩa nếu bỏ một đống tiền ra và thu về những thứ mà biết chắc rằng sẽ không tồn tại được mãi mãi – tôi muốn ngụ ý kỹ năng và kiến thức. Triết lý ở đây là, nâng cung lên cao thì sẽ đánh trúng đích. Hay, tôi muốn nói rằng giáo dục cần phải chú trọng vào nâng cao tâm thức của mỗi cá nhân. Hãy làm sao, để chỉ cần đến độ tuổi 15, khi cả nam và nữ đã đến độ chín trong phát triển sinh lý, các em đã có được sự định tâm, ý thức về tính cá nhân và mang trong mình một nhân sinh quan hướng thiện.
Để làm được như vậy, chỉ cần đưa THIỀN ĐỊNH vào giáo dục từ nhỏ. Ý thứ ba này tôi nghĩ sẽ gặp những hoài nghi và phản đối không ít, nhất là trong tình trạng nhận thức về khoa học tâm thức và triết lý sống của phần lớn chúng ta còn thấp. Tôi đề nghĩ, những cá nhân có tâm và tài, hãy tự trau dồi thêm cho mình về vấn đề này. Tôi hy vọng, các anh các chị sẽ có nhiều sự chia sẻ với tôi hơn về THIỀN ĐỊNH trong giáo dục.
Giáo dục sẽ vô nghĩa nếu chúng ta không thể đem tới cho mỗi cá nhân một định hướng để họ tự tìm lấy tình yêu – lòng tốt – cái đẹp. Bởi như vậy, giáo dục đã không gắn với cuộc sống nữa rồi, nó sẽ không khác nào một cái kim tự tháp. Giáo dục cần phải trở thành một giếng nước, không khí và đất, để con người vin nào nó để tự cân bằng và phát triển theo cách riêng.
Nhân loại đang đứng trước một ngã rẽ, cách mạng sắp tới sẽ là cách mạng tâm thức, và nó sẽ không diễn ra một cách đại chúng, nó sẽ mang tính cá nhân, nhưng sẽ sức lan truyền vô cùng mạnh mẽ. Tôi có nhớ Einstein đã từng nói rằng, “Để giải quyết một vấn đề, người ta cần một tâm thức ở tầng cao hơn”. Theo tôi, nó rất đúng, đặc biết là với khủng hoảng giáo dục tại Việt Nam.
Tôi không hoàn toàn tán thành với bác về việc đưa Thiền định vào giáo dục. Theo tôi, một vai trò chính của giáo dục là giúp đứa trẻ trở thành một con người tự do sống giữa và tôn trọng cộng đồng bao bọc nó. Phải có trải nghiệm với cuộc sống cộng đồng và xã hội rồi, con người mới có nhu cầu quay lại với chính mình, quay lại với trạng thái mà người ta tin rằng thượng đế , hay thiên nhiên đã nhào nặn ra người ta. Chưa có trải nghiệm tôi e rằng các suy tưởng thiền định sẽ mang màu sắc lý thuyết, và có phần áp đặt.
Bản thân Đức Thích Ca cũng trải qua ngần ấy giai đoạn, thưa bác Đạo.
Em lại không đồng tình ở quan điểm này của anh Châu. Tích phân, vi phân đúng là cần thiết cho những mathematicians tương lai nhưng còn với các nhạc công, hoạ sĩ, đầu bếp, diễn viên,… thì em cảm thấy học những thứ đó đúng là không cần thiết. Trong việc học quan trọng nhất là học sinh phải thích thú, đam mê những thứ mình được học. Không phải ai cũng có tư duy toán học tốt và thích tính toán để cảm thấy thích thú học những thứ phức tạp và khô khan đó. Mặt trái của việc ép học những thứ xa rời thực tiễn là khiến học sinh dễ cảm thấy chán ngán và gây tác dụng ngược. Em đồng ý với anh Châu là “Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy khoa học: định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó với thế giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để đưa ra những luận điểm cụ thể, kiểm chứng những luận điểm đó với thế giới khách quan”. Nhưng không phải cứ học toán học phức tạp thì mới có được phương pháp tư duy khoa học và biết lập luận. Đây là phạm trù của triết học vì vốn triết học (như Western philosophy bắt nguồn từ Socrates) được sinh ra để giải quyết những vấn đề này qua những ví dụ rất gần gũi với cuộc sống. Vì vậy thay vì học toán quá cao thì em nghĩ GD VN nên chú trọng dạy triết học hiện đại và cách lập luận logic với những ví dụ thực tiễn thì sẽ thú vì và hữu hiệu hơn nhiều. Ngoài ra còn có những môn học khác có thể dạy học sinh cách tư duy logic như cờ vua chẳng hạn, cũng rất thú vị và còn mang tính giải trí cao.
Diễn viên thì chắc cũng phải biết qua camera, ánh sáng, âm thanh, cấu tạo thanh khoản để luyện và giữ giọng, chưa kể những kiến thức về văn hóa, lịch sử, tâm lý, v.v… để có thể nhập vai.
Không biết, cũng như làm mà không biết mình đang làm cái gì. Đó gọi là dốt. Mà dốt gây nhiều hệ lụy, nhất là nếu có quá nhiều người dốt ở tầm xã hội. Ví dụ trong nhạc chẳng hạn, là những “quái thai” như “Làn da trâu”, hay những nhạc lai tạp Tàu, Hàn hiện nay, trong khi chất liệu Việt mai một. Người sáng tác ko biết mình sáng tác cái gì, người chơi ko biết mình đang chơi cái gì, người nghe ko biết mình đang nghe cái gì.
Âm thanh hòa với nhau định hình chất liệu nhạc. Phía dưới âm thanh là những qui luật dao động của sóng. Ko biết sóng thì ko hiểu tại sao Do Mi Sol nghe êm còn Do Re Fa nghe chói. Cũng ko hiểu nhạc Việt ngũ cung là gì mà nhạc Tây phương sao có đến 7 nốt. Không hiểu về sóng, tần số, hàm sin, v.v… thì chẳng biết nguồn gốc của những thứ đó ở đâu ra…
Nếu bạn hài lòng, hoặc nghĩ là người ta nên hài lòng với những gì mình biết mà ko cần quan tâm đến gốc ngọn, đầu đuôi thì … cũng tùy bạn. Nhưng dù nghề nào đi nữa, nếu sống mà ko tò mò xem sự vật hiện tượng chung quanh đang diễn ra như thế nào hoặc ko có nhu cầu tìm hiểu tại sao lại như vậy thì .. buồn quá. Còn nếu tò mò muốn hiểu thì phải biết chút đỉnh về tích phân, vi phân. Biết thêm một chút kiến thức phổ thông cũng làm cuộc sống thêm vui vẻ và phong phú bạn ạ. Đơn giản chỉ vì cái hạnh phúc khi cảm thấy mỗi ngày mình biết thêm một chút, bớt dốt đi một chút, hoặc … ít dốt hơn người khác.
Bạn nên theo phong trào cổ vũ cho dân Việt ít dốt đi, thay vì khư khư cho rằng cái này ko cần thiết, cái kia ko cần học. Những suy nghĩ như vậy trì kéo sự tiến bộ của mọi người, kể cả chính mình. Dân tộc Việt đã dốt so với tiến bộ nhân loại sẽ ngày càng dốt hơn.
Còn nhiều quan điểm trên bài viết của bạn tôi chưa đồng ý như cần phải biết tích phân vi phân => am hiểu về sóng => hiểu rõ vì sao Do Mi Sol nghe êm còn Do Re Fa nghe chói. Tích phân và vi phân vốn được phát triển bởi Newton và Leibniz vào cuối thế kỷ 17. Lúc bấy giờ nó chỉ phổ biến trong giới toán học. Tôi không nghĩ những thiên tài âm nhạc như Mozart hay Beethoven sống vào thế kỹ 18 đã được học tích phân và vi phân. Kể cả những nhạc sĩ ở thời Baroque, Renaissance thì càng chắc chắn không được học. Còn để nói như thết nào là “quái thai”, “lai tạp Tàu, Hàn” là tốt hay xấu tôi không muốn tranh luận ở đây vì cảm nhận về nghệ thuật vốn tương đối tuỳ theo người cảm nhận. Tôi cũng không nghĩ dân tộc “Việt dốt hơn so với tiến bộ nhân loại”, vì vốn “dốt” cũng mang tính tương đối. Theo nhận xét của tôi thì về mặt bằng chung du học sinh Việt giỏi toán hơn học sinh Anh, nhưng những kiến thức về xã hội và đạo đức lại kém hơn hẳn. Còn khi ra đời ai thành công hơn ai thì chắc chắn bạn cũng rõ.
Stephen Hawking có nói “the greatest enemy to knowledge is not ignorance, it is the illusion of knowledge”, tôi cũng đồng tình với quan điểm này, làm người dốt vẫn tốt hơn làm người tưởng lầm mình là tri thức. Xin lỗi tôi không muốn công kích cá nhân và ngoài lể cuộc tranh luận tí nhưng theo tôi có vẻ bạn fuzzychicken đang có illusion of knowledge trong âm nhạc thì phải.
Một lưu ý nữa với fuzzychicken là cách tranh luận của bạn dường như rơi vào trường hợp thứ 12, 14, 18 trong “Thói nguỵ biện ở người Việt” (http://tuanvannguyen.blogspot.co.uk/2010/05/thoi-nguy-bien-o-nguoi-viet.html). Xin fuzzychicken đọc kỹ các trước khi phản biện vì tôi vốn không thích tranh luận với những nguỵ biện.
“Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế giới xung quanh, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người.
“Nó bắt người ta phải nhận thức về sự tồn tại của người khác, cái là điều kiện để phân biệt giữa thiện và ác”
“Chức năng của nhà trường là dạy cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho chúng nghệ thuật sống”
=> để có được thành tựu hôm nay, thì trước tiên con người phải hiểu được thế giới xung quanh anh à, Càng hiểu nhiều con người càng có nhiều khai phá, thành tựu.
Và nếu nói như anh @ Trung Huynh, há chúng ta cũng chẳng cần học lịch sử, vì có mấy ai thích học lịch sử và nhiều người vẫn thường cho rằng học lịch sử để tự hào chứ chẳng được ích lợi gì chẳng bao giờ nghĩ lịch sử sẻ mang lại cho ta:
“Người Đức khôn thật, họ cho học sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào không làm điều đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần học lại, thi lại đều phải trả giá đắt hơn trước. Giá ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền như sinh viên thi lại!”.
Mỗi môn học có ý nghĩa riêng và tác động đến những ngành nghề khác nhau, mang đến cho ta những hiểu biết khác nhau về thế giới tự nhiên thế giới con người. Không ai có thể quyết định môn gì, điều gì cần cho ai (cho ta và cho cả người khác), mà chính bản thân mỗi người phải tìm ra điều họ cần, điều họ buộc phải cần.
Giáo dục là toàn thể, lượng kiến thức không phải và vấn đề mà cách tiếp cận kiến thức mới là điều quang trọng. Cũng cùng một môn học đó nhưng những giáo viên khác nhau, vùng đất khác nhau sẻ mang lại ý nghĩa môn học đó một cách khác nhau,
Cái anh tranh cãi là xét trên yếu tố tác động và cần thiết đối với một cá nhân riêng lẻ, điều GS Châu nói là xét cho toàn thể con người, và sự học. Nhân loại càng ít hiểu biết càng u mê, sự học càng ít xã hội sẻ tha hóa dần theo thời gian.
Chúc anh nhiều chiêm nghiệm và có cái nhìn rộng hơn!
Ngoài ra việc học còn là để khai TRÍ, để “thành người” chứ ko phải chỉ dừng lại ở việc để làm được nghề nọ nghề kia kiếm sống.( để làm được diễn viên, đầu bếp,… thì đôi khi cũng chẳng cần phải đi học bạn ạ)
Mình trân trọng sự dũng cảm nêu lên suy nghĩ của bạn, hy vọng bạn cũng đủ dũng cảm để nhìn thấy chổ khuyến khuyết trong cách nghĩ đó.
1. Tôi không biết về các ngành nghề khác nhưng tôi theo nghề tin học và cũng có vài năm kinh nghiệm làm việc ở Anh thi với tôi nhận xét tích phân, vi phân cần thiết cho tất cả ai theo ngành tin học là không chính xác. Trong tất cả các môn về tin học tôi được học thì có lẻ chỉ có AI hoặc machine learning thì sinh viên cần phải biết tích phân, vi phân. Nhưng sinh viên có quyền được lựa chọn có học 2 môn này hay không vì dù sao vẫn còn có nhiều môn khác có thể học mà không cần biết những kiến thức này. Thực tế là trong công ty tôi có nhiều người không hề giỏi toán nhưng họ rất thông minh và làm việc hiệu quả. Chỉ có tôi là Data Scientists thì mới sử dụng những kiến thức có liên quan.
2. Những kiến thức này hoàn toàn có thể được dạy ở ĐH khi mà học sinh đã chọn những ngành học có liên quan. Việc bắt buộc học ở phổ thông là hoàn toàn không cần thiết vì chính bạn cũng nói “nó rất thiết yêu đối với phần lớn học sinh”, điều này có nghĩa là vẫn có nhiều học sinh nó hoàn toàn không thiết yếu.
3. Để làm được diễn viên, đầu bếp,… thì đôi khi cũng chẳng cần phải đi học bạn ạ: điều này tôi hoàn toàn không đồng ý với bạn. Bạn quan trọng việc học toán trong khi xem nhẹ những kỹ năng khác. Tất cả những nghề này đều cần phải học cả, vấn đề là họ phải tự học ở ngoài vì vốn trong nhà trường không hề dạy những thứ này. Tôi luôn tự hỏi vì sao hồi tiểu học và trung học tôi lại phải học vẽ mà không được học nấu ăn. Giá như tôi được học nấu ăn thì lúc đi du học đâu phải khổ sở như thế này.
4. “Ngoài ra việc học còn là để khai TRÍ, để “thành người” chứ ko phải chỉ dừng lại ở việc để làm được nghề nọ nghề kia kiếm sống.” – trong các bài viết của tôi chưa bao giờ có ý học sinh không nên học cả, và cũng có nói rõ không nhất thiết phải học tích phân, vi phân thì mới là khai TRÍ. Luận điểm này của bạn lạc đề mất rồi.
Tôi luôn sẵn sàng cởi mở để đón chào quan điểm ưu việt hơn. Đáng tiếc là lập luận của bạn chưa đủ thuyết phục. Tôi sẵn sàng lắng nghe ý kiến phản biện của bạn, hy vọng bạn cũng cởi mở để đón chào quan điểm ưu việt hơn.
Tôi không đồng ý với anh Trung ở điểm “học triết học” quan trọng hơn học toán, học khoa học tự nhiên, không phải vì tôi là nhà toán học. Tôi nghĩ rằng học toán và khoa học tự nhiên tự nó rèn luyện cho người ta cách đặt vấn đề, diễn đạt vấn đề một cách chính xác, hoặc đúng hoặc sai, chứ không mơ hồ à uôm.
Học triết ở cấp phổ thông như thế nào là câu hỏi rất khó. Tôi không nghĩ rằng người ta, nhất là trẻ nhỏ, có thể hiểu về cuộc sống qua các bài giảng triết học. Các bài giảng triết học phát huy hết ý nghĩa của nó khi nó rọi sáng lên những trải nghiệm thực sự, còn nếu không nó rất dễ rơi vào mơ hồ siêu hình, hoặc những bài lên lớp đạo đức sáo rỗng.
Nếu ý của anh Trung là cần thay đổi cách dạy nhân văn ở mức độ phổ thông, thì tôi rất đồng ý với anh. Thay đổi như thế nào sẽ là một câu chuyện dài, mỗi người sẽ phải suy nghĩ, đưa ra ý kiến, cọ sát với thực tế để mà tranh biện cho ra nhẽ.
Chúc anh khoẻ.
Thực sự thì em không thích “phân ban” hay cách “phân ban” ở VN. Vì cách “phân ban” ở VN rất mơ hồ, không được xác định rõ mục tiêu. Chương trình “phổ thông” thì là chương trình phổ cập cho tất cả mọi người, những kiến thức thông thường nhất cần phải biết trong cuộc sống, ai cũng cần phải được học như nhau. Vậy nội dung của “phổ thông phân ban” lại mâu thuẩn với mục tiêu của chương trình “phổ thông”.
Em thích hệ thống của Anh, chương trình phổ thông kéo dài 11 năm, sau đó muốn vào ĐH thì học thêm 2 năm A-level để chuẩn bị vào ĐH. Trong 2 năm đó học sinh sẽ học 4 môn nâng cao và được lựa chọn học toán, lý, tin, hoá, lịch sử, địa lý… tuỳ theo sở thích và thế mạnh của mình. Khi xin vào ĐH, dựa vào các môn đã học mà học sinh có thể xin vào các ngành nhất định. Em thấy hệ thống này khá hay vì mỗi giai đoạn được xác định rõ mục tiêu rõ ràng, qua đó tránh được tình trạng học sinh học những thứ không hứng thú hay cần thiết cho sự nghiệp tương lai.
1)-> Tôi có vào website chương trình đại học các ngành khoa học tư nhiên (cụ thể là ngành tin học) của một số trường đại học trên thế giới (như MIT, Cambridge, Stanford,…) thì thấy Calculus luôn được dạy ở năm 1 (hoặc trể nhất là đầu năm 2). Điều này có nghĩa là các Chuyên gia trong ngành thấy được sự thiết yếu của nó như thế nào đối với sinh viên trong ngành nên mới thiết kế chương trình như vậy. Nếu bạn cảm thấy Calculus thật sự chỉ cần thiết cho “AI hoặc machine learning” mà ko cần thiết cho các ngành Tin khác thì bạn có thể đề đạc ý kiến của bạn tới các chuyên gia bên ngành tin học của các trường đại học lớn để họ thay đổi.
3)->”Để làm được diễn viên, đầu bếp,… thì đôi khi cũng chẳng cần phải đi học bạn ạ” chữ “học” trong câu này mình muốn nói là học hết lớp 12 (sorry, tại mình ko viết rõ ý nên bạn hiểu nhầm). Mình rất đồng ý là du học sinh thì phải biết cách tự nấu ăn, nhưng ở phổ thông dạy nấu ăn thì cũng sẽ có rất nhiều người (bằng cách lập luận của bạn) bảo tại sao ko dạy tui những thứ khác thiết thực hơn trong khi cả đời tui hầu như chẳng cần phải tự nấu ăn bao giờ.
2)-> Quan điển của tôi cũng chỉ là “vi tích phân là Rất thiết yếu đối với phần học sinh” nên việc lựa chọn dạy nó ở phổ thông là hợp lý, nó sẽ giúp ít rất nhiều khi bước vào đại học bởi vì nó ko dễ tới mức mà học một lần có thể nắm bắt hết được ý nghĩa của nó, do đó nếu đã biết sơ ở phổ thông thì vào đại học sẽ thuận tiện hơn. Tuy nhiên cách dạy vi tích phân ở phổ thông hiện nay theo tôi vẫn còn nhiều bất cặp.
Dĩ nhiên mình đồng ý là vi tích phân ko thiết yếu với một học sinh mà muốn học để sau này theo nghiệp văn chương chẳng hạn. (nhưng biết một chút vi tích phân thì đôi khi cũng có ích khi người đó đọc một “quyển vật lý vui” hay một bài báo nào đó, hoặc dạy cho con họ một bài toán nào đó; hoặc khi bạn là một phóng viên muốn phỏng vấn GS NBChâu chẳng hạn,
Mình đồng ý là cần có một số thay đổi ở chương trình phổ thông, đưa thêm một số môn về các kỹ năng sống vào nhà trường…
Thành thật mà nói thì mình cũng ko có quan điểm nào “ưu việt” hay “thuyết phục” hơn.
Cám ơn đã thảo luận!
Xin lỗi, tôi cho rằng các vị nên để lũ trẻ được yên và quan sát để thấy các vị còn phải học chúng nhiều. Các vị, và cả tôi nữa, chất toàn những thứ cặn bã trong đầu, kiến thức vay mượn, chứ biết thật là mấy. Và đừng lôi con trẻ vào trường học nữa, chỉ làm cùn sự sáng tạo của chúng.
Tôi có nói thế này, chắc chắn sẽ ăn đá. Bởi vì các vị thích lý luận, thích logic, thích có bằng chứng. Cuộc sống thì không cần bằng chứng và sự thật thì phải cảm nhận bằng trái tim. Các vị nên về nhà, xếp ghế ngồi trước mặt lũ trẻ, hỏi han và cố mà hiểu chúng. Chí ít sẽ hiểu được phần nào sự bức xúc trong câu chữ của tôi.
Đề nghị bạn bớt bức xúc, hoặc tối thiểu là bớt trút bức xúc vào comment, không khí tranh luận sẽ lành mạnh hơn. Cám ơn! – Nhóm biên tập
Một ý nhỏ khác từ thực tế muốn chia sẻ : Tôi có tham gia một chút theo một chương trình về đổi mới cách giảng dạy tiểu học. Chương trình này đã diễn ra được 4 năm. Các chuyên gia đến một số trường tiểu học dự giờ và đưa ra góp ý về cách giảng dạy. Từ thực tế họ đưa ra phương án cải tiến như sinh hoạt nhóm, cách quan sát học sinh để giải quyết ngay những vấn đề học sinh gặp phải trong giờ học với tiểu học là 35 phút. Lý thuyết là như vậy nhưng thực tế thì giáo viên trong vài năm được phổ biến phương pháp mới vẫn rất ít hiệu quả. Cũng là hoạt động nhóm thật đấy, cũng là quan sát những em học sinh cá biệt thật đấy, nhưng vẫn hình thức hơn là thực chất. Khả năng quan sát và xử lý tình huống của giáo viên trong 35 phút dạy học gần như không có chuyển biến trong vài năm ? Vậy vấn đề nằm ở đâu ? ở học sinh hay giáo viên ?
***
Xuyên suốt cuốn sách, chúng tôi đã chỉ ra rằng văn hóa ứng biến và chống phân cấp quản lý (tôn ti thứ bậc) của quân đội Israel đã đi theo người Israel vào trong các doanh nghiệp và giúp định hình cho nền kinh tế Israel. Văn hóa này, khi kết hợp cùng thành tựu công nghệ Israel thu được từ các đơn vị quân sự tinh nhuệ, và từ công nghiệp quốc phòng nhà nước sẽ tạo thành một hỗn hợp hiệu nghiệm. Nhưng sự hình thành của công nghiệp quốc phòng Israel không hề bình thường. Một quốc gia quá nhỏ lại có tổ hợp công nghiệp quốc phòng bản địa là điều chưa từng nghe thấy. Nguồn gốc của nó bắt rễ từ sự phản bội bi đát chỉ sau một đêm của một đồng minh thân cận.
Cách hay nhất để hiểu khoảnh khắc Israel bị dội nước là thông qua một cú sốc có tác động tương tự với người Mỹ. Trong những năm tăng trưởng nhanh sau chiến tranh, vị thế toàn cầu của Mỹ bất ngờ bị đấm gục khi Liên Xô qua mặt Hoa Kỳ bằng cách phóng vệ tinh không gian đầu tiên – Sputnik 1. Việc người Liên Xô có thể dẫn đầu cuộc chạy đua vào không gian đã làm sửng sốt hầu hết người Mỹ. Nhưng hồi tưởng lại, đây lại là cú nhảy vọt cho kinh tế Mỹ.
Nhà kinh tế học sáng tạo John Kao nói Sputnik “là một hồi chuông cảnh tỉnh, và nước Mỹ đã trả lời. Chúng tôi điều chỉnh chương trình dạy ở trường để nhấn mạnh việc dạy môn toán và khoa học. Chúng tôi thông qua Đạo luật Giáo dục Quốc phòng trị giá 900 triệu dollar(khoảng 6 tỉ dollar theo thời giá hiện tại) để cấp học bổng, khoản vay cho sinh viên và trang thiết bị cho trường học”. [1] NASA và chương trình Apollo được thành lập, và một cơ quan tương tự thuộc Bộ Quốc phòng cũng được thành lập mới và chuyên tâm vào việc khuyến khích cộng đồng R&D dân sự.
Hơn một thập kỷ sau đó, Neil Armstrong đặt chân lên mặt trăng. Chương trình Apollo và khoản đầu tư quốc phòng có liên quan của Lầu Năm Góc đã thúc đẩy một thế hệ của những khám phá mới mà sau này đều được thương mại hóa, tạo ra tác động gây thay đổi nền kinh tế. Chiến dịch phối hợp nghiên cứu và phát triển này đã sinh ra những khối doanh nghiệp hoàn toàn mới trong ngành viễn thông và điện tử hàng không, cũng như sinh ra chính Internet, và trở thành di sản của lời đáp trả Hoa Kỳ dành cho Sputnick.
This essay is from Hannah Arendt’s book “Between Past and Future: Six Exercises in Political Thought” first published in 1961.
Cảm ơn Lê Quỳnh Anh!
Nghe nói ở Mỹ một số trường cấp 3 đưa tọa thiền vào trong giờ học ? Theo tôi thiền là một phương pháp tĩnh tâm làm cho đầu óc được sáng ra hơn – chỉ vậy thôi . Một ví dụ cụ thể : Ví dụ khi ta chuẩn bị phỏng vấn vào trường đại học, xin việc … một số người hay mất bình tĩnh trước khi đến lượt mình : thì được khuyên rằng hãy hít thật sâu và thở từ từ ra khoảng 3 lần . Nếu các bạn từng trải qua kinh nghiệm này thì các bạn sẽ thấy phương pháp đơn giản vừa rồi là có hiệu quả.
Theo tôi tri thức và trí tuệ là hai khái niệm khác nhau. Hiện tại chúng ta cố nhồi nhét kiến thức cho học sinh là dạy chúng tri thức gom góp được của nhân loại, chứ chưa dạy chúng tìm ra và phát huy trí tuệ của chính mình. Trí tuệ là để nhận biết đúng sai, để ra quyết định thông minh trong vô vàn lựa chọn hàng ngày, để biết đặt câu hỏi nghi vấn cho những thành tựu cao nhất khoa học kỹ thuật mà con người đã đạt tới … Theo quan điểm của tôi là cần cho học sinh trải nghiệm và tập quan sát thật nhiều để nuôi dưỡng và ươm mầm hạt trí tuệ có sẵn trong mỗi con người khi sinh ra.
Minh cung bang tuoi anh va rat nguong mo tai nang cung nhu nhan cach cua anh. Khong chi xuat sac ve Toan hoc ma anh con viet Van rat tot. It nguoi co duoc ca chi so IQ va EQ cao nhu vay.
Chuc gia dinh anh chi va cac chau luon doi dao suc khoe!
Ann Le
BT: Cảm ơn bạn. Nhưng đề nghị bạn gõ đủ dấu cho tiếng Việt.
BT: Bạn có thể giải thích kỹ hơn được không, thay vì “phán” một câu ngắn gọn như trên?
Cái vướng nhất là, đối với người trần mắt thịt như chúng em, là sẽ bắt đầu từ đâu, cụ thể tiến hành thay đổi nhận thức bản thân như thế nào…vẫn biết là các bác trao đổi quan điểm để thay đổi nhận thức nhưng em thấy sẽ hiệu quả và có tính xã hội hóa cao hơn, giúp đỡ những người như em, các bác có thể có nhiều bài minh họa cụ thể, các bài dạy mẫu, hướng dẫn mẫu….(video clip một tiết học chẳng hạn – như em đã góp ý với nhóm Cánh Buồm). nói tóm lại là cụ thể, cụ thể… em phải làm ra sao?
Các bác giúp em có cái nhìn thông suốt hơn nhé. Cảm ơn mọi người!
2. Chín tháng trong bụng của mẹ mình thì ai ai cũng là thiền sư thuộc sơ đẳng cấp rồi, thậm chí chẳng cần ai chỉ vẽ chúng ta cũng nhập niết bàn. Với tôi, những ngày tháng còn trong bụng của mẹ mình là được sống trong cõi thiên đường. Vậy, không cần phải học “thiền” thêm nữa, mà thỉnh thoảng, đôi khi, phút chốc nhớ lại “thiền” một tý để kẻo quên, vô phúc thì lại “chẳng ra con người” các bác ạ ! Kết : đồng ý với Gs Châu viện dẫn câu nói của cỗ hiền nhân cỗ nước ngoài.
3. Tôi, năm nay 57 tuổi, thắc mắc bấy lâu, mặc dầu có đọc và nghe nhiều bậc cao nhân: nhà giáo, chuyên gia kinh tế …lý giải, nhưng vẫn chưa thỏa đáng “cái nhu cầu” của mình. Gs Châu cũng đã có đưa ra lý giải. Câu hỏi của tôi: tôi giỏi toán và cũng giỏi văn từ bé, tại sao (?), xin Gs Châu lý giải kiểu hiện sinh càng nhiều tôi càng vui và hạnh phúc. Trân trọng.
Đương nhiên ko thể phủ nhận vai trò của giáo dục và môi trường lên hành vi và nhận thức của con người. Tuy vậy điều đáng bàn ở đây là phải có những cách giáo dục khác nhau cho những người khác nhau, người tốt cần giáo dục như nào để họ vẫn tốt mãi, người xấu cần giáo dục như nào để họ tốt lên. Dường như, theo ý kiến cá nhân của ng viết, nền giáo dục của chúng ta đang quan niệm rằng tất thảy mọi người đều xấu, kỉ luật thép với tất cả mọi ng, kể cả với những ng đáng được thả ra để họ phát triển tư duy và khả năng sáng tạo vô cùng của họ. Ko biết có ai định home-school cho con sau này ở VN ko?
Nói vậy không có nghĩa là hai mô hình này sẽ thay thế toàn bộ cho những mô hình hiện tại. Nếu xét ở khía cạnh tiến hóa thì gia đình ( một tổ chức nhỏ nhất và nhiều nhất của xã hội) : nếu nó tiến hóa thì xã hội tiến hóa, nếu nó thoái hóa thì xã hội thoái hóa thì xã hội thoái hóa. Home-school là một yếu tố để làm tiến hóa gia đình.
Trước tiên, em được gặp anh Châu vào năm 1987 tại ĐSQ VN tại Berlin khi anh cùng đoàn học sinh VN đi thi toán Quốc Tế. Lúc đó anh mới 15, nhưng rất tự tin và gây Ấn tượng mạnh cho một Cô bé 12 tuổi ham thích môn toán như em ngày đó
Giờ đây khi đảm nhiệm vai trò làm vợ và mẹ như bao phụ nữ khác thì em phải nói rằng những gì em học được từ môn toán trong trường phổ thông và trước khi vào đại học đều rất hữu ích trong cuộc sống. Nói đúng ra thì đó không phải là các con số hay phép tính cụ thể, mà chính là cách lập luận và tư duy logic khi giải toán và học môn đó đã giúp em có được suy nghĩ rạch ròi, trình bày chính xác và cụ thể quan điểm, dẫn chứng mang tích khách quan hơn. Do vậy từ một Cô học sinh rất kém môn Văn khi về lại VN học cấp 3 (cấp 2 học tại trường Liên Xô tại Berlin và chỉ khá toán) thì vào đại học ở Đức, em lại được thầy bên này cho điểm cao khi viết political essays.
Ngay cả lúc này, khi ngồi giảng bài cho các con thì em cũng vận dụng cách diễn đạt và giải thích ngắn gọn và dễ hiểu nhất. Còn khi em soạn thư khiếu nại, góp ý, kiến nghị, đòi đền bù vv…(bên Tây lúc nào cũng có chuyện phải lo
Điểm sơ qua để giáo sư và các anh chị tham khảo, đồng thời cũng thư giãn một chút trong cuộc thảo luận có phần phức tạp này. Chúc tất cả mọi người tìm ra con đường đi hợp lý nhất, phù hợp với khả năng, điều kiện của từng người! Xin tỏ lòng ngưỡng mộ và chúc mừng giáo sư Châu đã nỗ lực đem lại thành công cho bản thân, đem lại thành quả đáng kính cho xã hội. Rất mến phục người vợ đảm đang, người mẹ tài năng và hiền hậu vun vén gia đình để giáo sư tập trung nghiên cứu, để các con của anh chị là con ngoan và trò giỏi!
Còn có cái này, con mình đang học lớp 1 bên TQ. Mình thấy trong thời khóa biểu của cháu một tuần có một tiết Triết học. Còn Đạo đức thì chủ yếu là học kỹ năng sống. Và chỉ học 6 tiết/ngày thôi, không học 8 tiết/ngày như mình. Mà nếu so con mình với cháu mình đang học ở nhà, thì mình thấy con mình vui vẻ, lanh lẹ, hoạt bát hơn. Vì thế mình không hiểu, các bác làm giáo dục ở nhà mình đang làm cái gì nữa?
Ngày xưa, tuổi như các em thầy cô cũng hỏi như vậy mà! Sao?
- Chúng em không thích làm bố làm mẹ đâu.
- Ừ! về mà nói với bố mẹ nhé.
!!!!!
- Bố mẹ mà làm được như các con nói thì bây giờ chúng tao đã mát một số chỗ.
Ở bên Tây thì khác, nói đơn giản là mỗi cá nhân học nhiều hay ít tuỳ theo khả năng và điều kiện của mình! Hồi mình còn là sinh viên ở Berlin thấy trên giảng đường hoặc seminar hay có các Bác về hưu đến ngồi nghe giảng về Triết, Lịch Sử và Chính Trị, chỉ để thỏa mãn sự khát khao …kiến thức thôi, chứ không phải là vì bằng cấp hay chức tước như ở VN ta. Có lẽ bạn còn đang phải bươn trải học để cho các kỳ thi ở trong nước nên mới bức xúc như thế này giống bạn Châu Chấu thì phải. Đúng là do cách dạy và học ở VN chưa được đổi mới, được hợp lý hoá, nên ảnh hưởng đến việc học, chứ về bản chất HỌC là quan trọng. Sau này khi bạn trưởng thành, có nghề nghiệp chuyên môn hoặc chỉ làm Nội trợ như mình bạn sẽ thấy việc học tích phân hay phân tích truyện Kiều đều có ý nghĩa rất nhiều cho sự phát triển trí tuệ và cách tiếp cận thế giới đấy! Không phải là Nội dung mà là cách thức tiếp cận vấn đề, giải quyết vấn đề, bạn ạ!
Mong bạn đừng nản lòng việc học, chỉ Cần bạn học bằng khả năng, tâm huyết của bạn, không theo mốt hay thành tích, không học cho việc thi cử, nếu không lại đổ tội cho việc học là vô nghĩa đấy! Chúc bạn thành công trên đường đời!
HTN: Nhưng câu comment của bạn rất khó hiểu, vì bạn viết tiếng Việt không có dấu.
Ai kiếm được nhiều tiền người đó thực hành tốt – không lí thuyết suông.
tuy nhiên những ông lắm tiền nhiều của thì hầu như phần “thiên nhiên” chiếm mất 70% (ít hay nhiều nhỉ?) – điều này làm xã hội không ưa lắm, vì chiếm phần lớn XH hiện nay đều là kẻ ngèo tiền của và giàu tính nhân văn, thiếu tiền ngồi thiền cho tâm hồn chay tịnh, bỏ qua hết những bon chen, giả dối (không bỏ thì cũng chẳng theo được bọn lắm tiền nhiều của).
Nếu như, lại nếu rồi, khả năng học hành như nhau, chú nào cũng giàu có , còn gì thú vị nữa, sẽ chẳng còn ganh ghét nhau (xe sang, nhà đẹp, quần áo mốt …) nữa. Chẳng ai còn muốn ra đường – ra ai thèm ngía, không còn cảnh Ô sin, tự thân thằng nào thằng ấy lo – ăn song tự rửa bát nhé (không còn dịch vụ ăn uống) và thầm chửi đời sao có tiền vẫn phải khổ thế này. – Mấy ông nhớn bèn nghĩ ra giải pháp: Nhập khẩu lao động.
Nhưng nước ngoài họ học tốt hơn mình, thế mới chán.
Mình thì nghĩ việc học là tiếp thu kiến thức để phục vụ cuộc sống (vật chất và tinh thần), nên không học hay học ít thì là một thiệt thòi lớn cái đã. Khi có kiến thức sâu và rộng thì con người đi dược giải phóng khỏi sự dốt nát. Điều này có nghĩa là họ được tự do về tinh thần, độc lập về suy nghĩ và hành động có lý trí. Một trí thức ở bất kỳ lĩnh vực nào mà giỏi sẽ đều thành đạt, và sự thành đạt này không phó mặc cho may mắn hay định mệnh!
Tuy nhiên, không nên đánh giá sự thành đạt bằng sự giàu có, bởi có rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng mà cả đời hầu như không có gia sản gì ngoài tri thức của họ. Họ dành cả tâm huyết, sức lực và thời gian cho các công trình khoa học, nên được nhân loại kính nể, biết ơn. Ngược lại, khối kẻ giàu là tỷ phủ nhưng thiếu kiến thức nên chỉ buôn gian bán lận một thời gian rồi sau đó cũng phải hầu toà hoặc trả giá cho sự dốt nát của mình!
Bạn đừng quá bi quan, có kiến thức là trang bị vào đời tốt nhất, là con đường làm giàu chân chính nhất. Ở nước ngoài, nhất là phưong Tây, thường là cá lớn nuốt cá bé, nhưng muốn không làm cá bé thì phải biết tự thu thập kiếm thức để đấu chọi với cá lớn. Có lẽ chế độ tư bản bắt con người ta phải biết đấu tranh để sinh tồn, nên kiến thức mang tính thực dụng hơn. Do vậy họ học là học cho ra trò
Lan huong làm maphuong buồn 5 giây đó nha, nhưng maphuong lạc quan rằng lan huong biet maphuong đang hụp lặn trong bể khổ thì thế nào cũng bàn cách đưa maphuong ra, hi hi